Auteur : tranquanghai130544

HỒNG VÂN : Quỹ học bổng Trần Văn Khê: Truyền lửa cho tài năng âm nhạc truyền thống Việt Nam

Quỹ học bổng Trần Văn Khê: Truyền lửa cho tài năng âm nhạc truyền thống Việt Nam

  09:57 | Thứ ba, 01/06/2021 0Tháng 3.2021, Quỹ Học bổng Trần Văn Khê đã danh chính ngôn thuận ra đời trong sự vui mừng của những người yêu quý ông. Dù muộn nhưng đây là một việc làm rất có ý nghĩa.

Sau gần 6 năm kể từ ngày GS-TS. Trần Văn Khê từ giã cõi tạm, mới đây quỹ học bổng mang tên ông đã chính thức được UBND TP.HCM cấp phép thành lập và hoạt động. Hai hoạt động chính của quỹ là trao giải thưởng cho các cá nhân có đóng góp xuất sắc cho hoạt động âm nhạc truyền thống và trao học bổng cho học sinh – sinh viên học tập, nghiên cứu về âm nhạc truyền thống dân tộc.

Bà Nguyễn Thế Thanh, Phó chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ Trần Văn Khê cho biết lễ trao giải thưởng Trần Văn Khê lần thứ nhất sẽ diễn ra đúng vào dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông (24.7.2021). Việc xét tặng giải thưởng được thực hiện luân phiên theo từng khu vực Nam, Trung, Bắc. Riêng năm 2021 sẽ xét tặng giải cho các cá nhân hoạt động âm nhạc truyền thống Nam bộ. 

Tại lễ trao giải thưởng sẽ có nhiều hoạt động tưởng niệm công đức của GS. Trần Văn Khê, ra mắt Ban sáng lập và Hội đồng quản lý Quỹ, tri ân các mạnh thường quân, biểu diễn nghệ thuật bởi các thế hệ học trò của GS. Trần Văn Khê. Ngoài ra, năm 2021 còn nhiều hoạt động khác như trao học bổng Trần Văn Khê (tháng 11), hội thảo “Trần Văn Khê với các giá trị truyền thống và đương đại” vào dịp Ngày Di sản Văn hóa Việt Nam 23.11. 

100 năm ấy biết bao nhiêu tình

Trước khi mất (24.6.2015), GS. Trần Văn Khê đã để lại di nguyện, trong đó có việc thành lập quỹ học bổng để khuyến khích những học sinh, những nhà nghiên cứu và nghệ sĩ có thành tựu xuất sắc trong học tập, nghiên cứu, phát huy giá trị nghệ thuật dân tộc truyền thống Việt Nam. 

Sau một thời gian dài tìm kiếm nguồn lực, từ năm 2019, Nhóm thân hữu Trần Văn Khê (GS-TS. Trần Quang Hải, nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân, nhà báo Nguyễn Thế Thanh, ông Hồ Thủy Tinh, TS. Nguyễn Nhã, doanh nhân Lê Quốc Ân, ông Trần Bá Thùy, bà Lê Ngọc Hân) đã nhận được sự hợp tác tâm huyết và mạnh mẽ của Ban lãnh đạo Trường Đại học Văn Lang. Nhà trường chịu trách nhiệm thành lập Quỹ Học bổng theo di nguyện của cố GS. Trần Văn Khê.

Sau 4 lần điều chỉnh hồ sơ theo yêu cầu của cơ quan chức năng, tháng 3.2021, Quỹ Học bổng Trần Văn Khê đã danh chính ngôn thuận ra đời trong sự vui mừng của những người yêu quý ông. Dù muộn nhưng đây là một việc làm rất có ý nghĩa. 

Ấn phẩm đặc biệt này sẽ được bán để góp phần gây Quỹ Học bổng Trần Văn Khê.


Trần Văn Khê trọn một đời theo đuổi việc nghiên cứu và phát huy sâu rộng ra thế giới giá trị quý báu của âm nhạc truyền thống Việt Nam. Các chuyên đề nghiên cứu và đào tạo của ông về đờn ca tài tử, về cải lương Việt Nam trong đối sánh với các loại hình âm nhạc, kịch nghệ của các quốc gia châu Á (pansori của Triều Tiên, kinh kịch của Trung Quốc, noh và kabuki của Nhật Bản) đã được giới âm nhạc quốc tế đánh giá rất cao. Từ đó, nhiều bộ môn văn hóa – nghệ thuật dân tộc của Việt Nam với sự góp sức trực tiếp và gián tiếp của ông đã được UNESCO công nhận Di sản Văn hóa phi vật thể của thế giới như nhã nhạc cung đình Huế, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, ca trù, quan họ Bắc Ninh, đờn ca tài tử Nam bộ… 

Trong sự nghiệp hoạt động âm nhạc hơn 60 năm, GS. Trần Văn Khê đã nhận được nhiều sự vinh danh cao quý: Huy chương Bội tinh hạng nhất của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa (trước năm 1975), Giải thưởng âm nhạc của UNESCO (1981), Huân chương Nghệ thuật, Văn chương của Bộ Văn hóa Pháp (1991), Viện sĩ Thông tấn của Viện hàn lâm Khoa học, Văn hóa, Nghệ thuật châu Âu (1993), Huân chương Lao động hạng Nhất do Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam trao tặng (1999), Giải thưởng Đào Tấn (2005), Giải thưởng Phan Châu Trinh về nghiên cứu (2011)… 

Làm mọi việc cho người tri âm

Để chuẩn bị cho lễ trao Giải thưởng Trần Văn Khê lần thứ nhất, Ban tổ chức đã mời NSND Kim Cương tham gia Hội đồng chuyên môn và bà chấp nhận với sự xúc động sâu sắc. Gặp chúng tôi mới đây, bà ân cần góp ý về cách thức bầu chọn người tài để tôn vinh; bà nhắc nhở nên thông báo công khai, rộng rãi để tìm cho được những tài năng âm nhạc dân tộc đích thực. Bà nhấn mạnh nhiều lần: “Tôi luôn sẵn sàng làm mọi việc vì ông”.

Bà cho biết lãnh đạo Sở Văn hóa – Thể thao TP.HCM cũng đã đến thăm và thông báo cho bà về những hoạt động kỷ niệm 100 năm ngày sinh GS. Trần Văn Khê, người con đã làm rạng danh đất nước, như chương trình giao lưu nghệ thuật tại Nhà hát Thành phố, lễ đặt tên đường, triển lãm hình ảnh và hiện vật về Trần Văn Khê tại Bảo tàng Thành phố… “Không xúc động, vui mừng sao được khi điều mình nghĩ, mình lo lắng đã có người thấu hiểu và chia sẻ. Với tôi, ông không bao giờ mất đi mà luôn sống mãi” – Bà trìu mến gọi ông là “anh Hai” và xem ông là thiên tài, là vĩ nhân vì “cái gì ông cũng biết, cũng giỏi, cũng tài. Không chỉ âm nhạc truyền thống cả ba miền Nam, Trung, Bắc mà chuyện gì ông nói cũng hay, cũng hấp dẫn”.

NSND Kim Cương và TS. Mai Mỹ Duyên,  thành viên Hội đồng chuyên môn của Giải thưởng Trần Văn Khê.


Những năm cuối đời, về Việt Nam sinh sống, tuy tuổi cao, sức yếu nhưng ở đâu mời đến giảng dạy, nói chuyện về âm nhạc truyền thống là ông đều đến và nói chuyện say mê. NSND Kim Cương kể có những sự kiện nhỏ, ít người tham gia, mọi người lo ngại cho sức khỏe của ông nên khuyên đừng đi. Song, ông nói chính vì mình còn ít thời gian nên càng muốn tranh thủ để truyền đạt lại cho thế hệ trẻ những tinh hoa của âm nhạc truyền thống. Vì vậy có những buổi nói chuyện chỉ với vài chục học sinh, ông cũng vui vẻ nhận lời.

Giữa chừng câu chuyện vui, NSND Kim Cương bỗng ngậm ngùi: “Tôi nhớ có lần hai anh em ăn cơm ở nhà hàng Majestic, rất đông người hâm mộ nhận ra chúng tôi nên xin chụp hình chung. Khung cảnh thật vui vẻ, náo nhiệt. Đến hơn 9 giờ tối, mọi người về hết, chỉ còn lại hai anh em với nỗi cô đơn của người nghệ sĩ. Thấy tôi có vẻ buồn, ông an ủi, mình sinh ra là để sống vì mọi người. Đến giờ tôi vẫn nhớ lời ông, sống cho mọi người”. 

Ban sáng lập Quỹ Trần Văn Khê

+ Kỹ sư Bùi Quang Độ, nhà sáng lập và nguyên Chủ tịch Đại học Văn Lang
+ Nhà nghiên cứu văn hóa Nguyễn Đắc Xuân
+ Doanh nhân Lê Quốc Ân

Hội đồng quản lý Quỹ Trần Văn Khê

+ Kỹ sư Bùi Quang Độ, Chủ tịch
+ Nhà báo Nguyễn Thế Thanh, Phó chủ tịch
+ Nhà báo Dương Trọng Dật, thành viên Hội đồng quản lý kiêm Giám đốc Quỹ Trần Văn Khê; Viện trưởng Viện Nghiên cứu, Đào tạo Văn hóa Nghệ thuật và Truyền thông Đại học Văn Lang
+ Tiến sĩ nghệ thuật Mai Mỹ Duyên, 
thành viên 
+ Ông Hoàng Sơn Điền, Giám đốc điều hành Đại học Văn Lang, thành viên

Mong một không gian mang tên Trần Văn Khê

Bà Nguyễn Thế Thanh kể: “GS. Trần Văn Khê từng bày tỏ với lãnh đạo Sở Văn hóa – Thông tin TP.HCM (nay là Sở Văn hóa – Thể thao) về nguyện vọng sau khi ông mất thì toàn bộ sách vở, hiện vật gắn với cuộc đời và sự nghiệp của ông đem từ Pháp về sẽ thuộc công cộng, căn nhà ông ở tại 32 Huỳnh Đình Hai (quận Bình Thạnh, TP.HCM) do Nhà nước bố trí là tài sản nhà nước sẽ trở thành nơi không chỉ thuần túy lưu niệm một con người, mà thực chất là nơi để tất cả những người yêu mến văn hóa dân tộc có thể lui tới trình diễn, học hỏi, trao đổi”.

Trân trọng ý kiến của ông, Sở đã phân công bà, khi ấy là phó giám đốc sở, làm việc với GS. Trần Văn Khê và lập biên bản ghi nhớ có chữ ký của hai bên. “Những người yêu mến Trần Văn Khê luôn mong mỏi sớm có không gian Trần Văn Khê tại nơi ông đã sống và hoạt động nghề nghiệp gần 10 năm cuối đời, để TP.HCM có thêm một địa chỉ văn hóa làm nơi gặp gỡ, nuôi dưỡng tình yêu âm nhạc truyền thống Việt Nam – một giá trị quý báu đã được quảng bá rộng rãi ra thế giới bởi đóng góp lớn lao của một danh nhân Việt Nam cả đời phụng sự cho văn hóa dân tộc. Đó cũng là một cách để làm giàu thêm di sản văn hóa Việt Nam”, bà Thế Thanh chia sẻ nhân dịp Quỹ Học bổng Trần Văn Khê ra mắt.

Bài và ảnh: Hồng Vân

https://nguoidothi.net.vn/quy-hoc-bong-tran-van-khe-truyen-lua-cho-tai-nang-am-nhac-truyen-thong-viet-nam-28666.html

Nhà nghiên cứu Võ Trường Kỳ nói về xuất xứ và cái hay, cái đẹp của nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ V

Nhà nghiên cứu Võ Trường Kỳ nói về xuất xứ và cái hay, cái đẹp của nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ V

44 views•Mar 20, 201910SHARESAVEHỒng Vĩnh Nguyễn4 subscribersSUBSCRIBECó minh họa

WIKIPEDIA : Music of Vietnam

Music of Vietnam

From Wikipedia, the free encyclopediaJump to navigationJump to searchPerformance of ca trù, an ancient genre of chamber music from northern Vietnam, inscribed by UNESCO as an Intangible Cultural Heritage in 2009

Traditional Vietnamese music encompasses a large umbrella of Vietnamese music from antiquity to present times, and can also encompass multiple groups, such as those from Vietnam’s ethnic minority tribes.[1] Throughout its history, Vietnam has been most heavily influenced by traditional Chinese music, along with KoreaMongolia and Japan.[2]

Contents

History[edit]

Drum from Sông ĐàVietnam. Dong Son II culture. Mid-1st millennium BCE. Bronze.

Traditional Vietnamese music has been mainly used for religious activities, in daily life, and in traditional festivals. Vietnam’s ethnic diversity has also made its music scene diverse. Each of Vietnam’s ethnic group owns many unique types of musical instruments. The influence of Chinese culture on Vietnamese music is also quite prevalent, such as maids, harps and erhu. However, traditional Vietnamese music, whilst often compared to traditional Chinese music, is not exactly the same.

Royal court music[edit]

Royal Vietnamese court music first appeared in the 1040s after a successful seaborne raid against Champa led by king Lý Thái Tông in 1044. Cham women were taken as singers, dancers and entertainers for the court. The chronicles recorded that a special palace for Cham women was built in 1046, then in 1060 the king ordered a translation of Cham songs, and incorporated Cham drum known as trong com into the royal band.[3] During the 13th century, a new trend of music came from China: songs set to Chinese tunes with Vietnamese lyrics.[4]

Nhã nhạc is the most popular form of royal court music, specifically referring to the court music played from the Trần dynasty to the last Nguyễn dynasty of Vietnam, being synthesized and developed by the Nguyễn emperors. Influenced from Ming Chinese music, it slowly emerged in the royal court in 1430s.[5] Along with nhã nhạc, the imperial court of Vietnam in the 19th century also had many royal dances which still exist in present times. The theme of most dances is to wish the emperor or empress longevity and the country prosperity.Traditional orchestra performing at the Temple of Literature, Hanoi

Classical music is also performed in honour of gods and scholars such as to Confucius in temples and shrines. These categories are defined as Nhã Nhạc (« elegant music » or « ritual and ceremonial » music), Đại nhạc (« great music »), and Tiểu nhạc (« small music ») are classified as chamber music, often for entertainment for the ruler.[6][7][8][9][10] In Vietnamese traditional dance, court dances were encompassed van vu (civil servant dance) and vo vu (military dance).[11][12][13]

Dilettante music[edit]

Main article: Nhạc tài tử

Dilettante music is a genre of chamber music in the traditional music of southern Vietnam. Its instrumentation resembles that of the ca Huế style. Sometimes, modified versions of European instruments like the guitar, violin, and the steel guitar are also included. Vọng cổ ( meaning « Longing for the Past ») is one of the more popular tài tử melodies, and was composed in 1919 by songwriter Mr Sáu Lầu, of Bạc Liêu, in southern Vietnam.[14]

Folk music[edit]

This section needs expansion. You can help by adding to it(January 2011)

Vietnamese folk music is extremely diverse and includes dân caquan họhát chầu vănca trù, and hát xẩm, among other forms.

Chèo[edit]

Chèo orchestra accompanies the performance of water puppetry

Chèo is a form of generally satirical musical theatre, often encompassing dance, traditionally performed by peasants in northern Vietnam. It is usually performed outdoors by semi-amateur touring groups, stereotypically in a village square or the courtyard of a public building, although today it is also increasingly performed indoors and by professional performers.

Xẩm[edit]

Blind artists performing xẩm

Xẩm or Hát xẩm (Xẩm singing) is a type of Vietnamese folk music which was popular in the Northern region of Vietnam but is considered nowadays an endangered form of traditional music in Vietnam. In the dynastic time, xẩm was performed by blind artists who wandered from town to town and earned their living by singing in common places.

Quan họ[edit]

Singing quan họ at Hoàn Kiếm Lake

Quan họ (alternate singing) is popular in Hà Bắc (divided into nowadays Bắc Ninh and Bắc Giang provinces) and across Vietnam; numerous variations exist, especially in the Northern provinces. Sung a cappella, quan họ is improvised and is used in courtship rituals.

Hát chầu văn[edit]

Hát chầu văn or hát văn is a spiritual form of music used to invoke spirits during ceremonies. It is highly rhythmic and trance-oriented. Before 1986, the Vietnamese government repressed hát chầu văn and other forms of religious expression. It has since been revived by musicians like Phạm Văn Tỵ.

Nhạc dân tộc cải biên[edit]

Nhạc dân tộc cải biên is a modern form of Vietnamese folk music which arose in the 1950s after the founding of the Hanoi Conservatory of Music in 1956. This development involved writing traditional music using Western musical notation, while Western elements of harmony and instrumentation were added. Nhạc dân tộc cải biên is often criticized by purists for its watered-down approach to traditional sounds.

Ca trù[edit]

Band performances Ca trù

Ca trù (also hát cô đầu) is a popular folk music which is said to have begun with ca nương, a female singer who charmed the enemy with her voice. Most singers remain female, and the genre has been revived since the Communist government loosened its repression in the 1980s, when it was associated with prostitution.

Ca trù, which has many forms, is thought to have originated in the imperial palace, eventually moving predominantly into performances at communal houses for scholars and other members of the elite (this is the type of ca trù most widely known). It can be referred to as a geisha-type of entertainment where women, trained in music and poetry, entertained rich and powerful men.

Cải lương[edit]

Excerpts from reformed salary Tự đức dâng roi

Cải lương originated in Southern Vietnam in the early 20th century and blossomed in the 1930s as a theatre of the middle class during the country’s French colonial period. Cải lương is now promoted as a national theatrical form. Unlike the other folk forms, it continued to prove popular with the masses as late as the 1970s and the 1980s, although it is now in decline.

Cải lương can be compared to a sort of play with the added aspect of Vọng cổ. This term literally means « nostalgia for the past », it is a special type of singing with the background music often being the đàn tranh zither or the đàn ghi-ta (Vietnamized guitar). In a typical cải lương play, the actresses and actors would use a combination of regular spoken dialogue and vọng cổ to express their thoughts and emotions.

Hò[edit]

« Hò » can be thought of as the southern style of Quan họ. It is improvisational and is typically sung as dialogue between a man and woman. Common themes include love, courtship, the countryside, etc. « Hò » is popular in Cần Thơ – Vietnam.

Ritual music[edit]

Traditional musical instruments[edit]

Classical music[edit]

Phạm Tuyên was one of the representatives of Classical music

Vietnamese composers also followed Western classical music, such as Cô Sao by Đỗ Nhuận, considered as the first Vietnamese opera. Hoàng Vân signed Thành Đồng Tổ Quốc, in 1960, considered as the first Vietnamese symphonie, and Chị Sứ as the first Vietnamese ballet in 1968, as well as the dozen of Choir with symphonic orchestra among his hundred famous patriotic tunes. Nguyễn Văn Quỳ also wrote 9 sonatas for violin and piano, following his French music studies and Vietnamese traditions.[15] Phạm Duy also wrote classical compositions mixed with Vietnamese folk music.

Red music[edit]

Main article: Nhạc đỏThanh Lam was one of the representatives of Red music

Red music (Nhạc đỏ) is the common name of the revolutionary music (nhạc cách mạng) genre in Vietnam. This genre of music began soon after the beginning of the 20th century during the French colonial period, advocating for independence, socialism and anti-colonialism. Red Music was later strongly promoted across North Vietnam during the War, to urge Northerners to achieve reunification under the Communist Party of Vietnam and fight against the « American imperialist puppet » in South Vietnam. Other forms of non-traditional, non-Revolutionary music and culture in the North, like Vietnamese popular music and Western music and culture, were banned, being labelled as « counter-revolutionary », « bourgeois », or « capitalist ».

Yellow music[edit]

Main articles: Yellow music and BoleroChế Linh was one of the representatives of Yellow music

Yellow music (Nhạc vàng) in Vietnam has two meanings. The first meaning is the lyrical and romantic music from pre-war, post-development in southern Vietnam in the period 1954s-1975s and later overseas as well as in the country after Đổi Mới, influenced by music of South Vietnam 1975s. The second meaning is the common name of popular music that was formed in the late 1950s in South Vietnam, using many different melodies such as boleroenkarumbatangoballademambochachacha,…[16]

Overseas music[edit]

Main article: Vietnamese diasporic musicTâm Đoan was one of the representatives of Overseas music

Overseas music also called Vietnamese diasporic music, refers to the Vietnamese music brought overseas, especially to the United States and France by the forced migration of Vietnamese artists after the Fall of Saigon in 1975s.Thúy Nga Productions was one of the record label biggest of Overseas

Since the Đổi Mới economic reformation began in 1986s, an increasing number of foreign tourists have visited Vietnam, constructing a new dimension to the musical life of the country. Many hotels and restaurants have hired musicians who played traditional Vietnamese music to entertain their new customers. Spectacles of musical performances present tourists with some aspects of the musical culture of Vietnam, though musicians also play westernized folk music to cater to foreigners’ tastes because of economic necessity. The cultural industry in Vietnam shows a positive tendency towards prosperity. Some excellent musical festivals have taken place, namely the Lullaby Festival, modernized Theater Festival, Theater Song contest, the Traditional Theater Festival, etc. A considerable amount of film music has been composed to enrich the film industry in Vietnam. Furthermore, the Institute of Musicology has played an important role in the preservation and academic research of Vietnamese music. The institute is well using modern technology to help restore and preserve Vietnamese music and songs on compact discs for the longer and better conservation of sound documents. Stored in the Sound Archives of the Institute of Musicology are 8,850 pieces of instrumental music and nearly 18,000 folk songs performed by more or less 2,000 performers. Thousands of technology products in the form of an audio CD, video CD, and videotapes featuring performances on folk music have been released.

1940s–1980s, singer-songwriters[edit]

Songwriter Phạm Duy (1920u–2013)Main article: Popular music of Vietnam

The Vietnam War, the consequent Fall of Saigon, and the plight of Vietnamese refugees gave rise to a collection of musical pieces that have become « classical » anthems for Vietnamese people both in Vietnam and abroad. Notable writers include Phạm Duy and Trịnh Công Sơn. Singers include Thái ThanhKhánh Ly and Lệ Thu.[17][18][19][20]

Many of these composers, in the North, also contributed Vietnamese revolutionary songs, known as nhạc đỏ « Red Music »: Lưu Hữu PhướcVăn CaoHoàng VânNguyễn Xuân Khoát

Modern music[edit]

V-pop[edit]

Main article: V-popSơn Tùng M-TP singer representative of music V-pop

The embrace of modern pop music culture has increased, as each new generation of people in Vietnam has become more exposed to and influenced by westernized music along with the fashion styles of Hong Kong, Taiwan, Japan, and South Korea. Musical production has improved and expanded over the years as visiting performers and organizers from other countries have helped to stimulate the Vietnamese entertainment industry. Such performances include international stages like the Asia Music Festival in South Korea where popular Vietnamese singers such as Hồ Quỳnh HươngMỹ TâmHồ Ngọc HàLam TrườngSơn Tùng M-TP and others have performed along with other singers from different Asian countries. During the recent years such as 2006 and beyond, Vietnamese pop music has tremendously improved from years past. Vietnamese music has been able to widen its reach to audiences nationally and also overseas. There are many famous underground artists such as Andree Right Hand, Big Daddy, Shadow P (all featured in a popular song called Để anh được yêu) or Lil’ Knight and countless others who have risen to fame through the Internet. In addition, there are also other singers that have gone mainstream such as M4U, Hồ Ngọc Hà, Bảo Thy, Wanbi Tuấn Anh, Khổng Tú Quỳnh, Radio Band, etc. There are also amateur singers whose songs have been hits in Vietnam such as Thùy Chi. These singers tend to view singing as a hobby, therefore not being labeled as mainstream artists. Overall, the quality of recording and the style of music videos in Vietnam has improved a lot compared to the past years due to many private productions and also overseas Vietnamese coming back to produce a combination of Western and Vietnamese music.

Rock and heavy metal[edit]

Introduced by American soldiers, rock and roll was popular in Saigon during the Vietnam War. This genre has developed strongly in the South and has spread out over the North region after the rise of Bức Tường in the 90s. For the last 10 years, metal has become more mainstream in Vietnam. Ngũ Cung and Microwave are the current top Vietnamese metal bands in the 21st century.[citation needed]

Hip Hop and Rap[edit]

Main article: Vietnamese hip hop

The early 1990s Hip Hop import into Vietnam. However, due to language limitations, the number of listeners is not much. Until the early 2000s, hip hop begins to grow in Vietnam become a movement of young people. Not long after that, the movement quickly subsided and many turned their backs on Hip Hop and Rap. Although it can be considered as the freezing period of Vietnamese Hip Hop, it also helps Vietnamese Underground Hip Hop become more stable when the true continues the mission of making this culture ever stronger and promises more and more talents are born from this cradle.Suboi rapper representative of Vietnamese Hip Hop

Until the early 2005s new groups and communities were born Most prominent is Wowy a famous rapper in Vietnam in 2005s, After that, he teamed up with Karik to become a very famous rapper couple in Vietnam in 2005s–2010s. Another famous rapper in Vietnam is name Suboi, she is the first Vietnamese female rapper to become successful in her country and is considered « Vietnam’s queen of hip hop« .

Currently, hip hop plays an important role in V-pop, hip hop gameshow competitions are currently developing in Vietnam such as Rap Viet, King of Rap,… Contributing to bring Vietnamese hip hop internationally.

See also[edit]

References[edit]

  1. ^ Ó Briain, Lonán (2018). Musical minorities : the sounds of Hmong ethnicity in Northern Vietnam. New York, NY. ISBN 9780190626976OCLC 994287647.
  2. ^ « Southeast Asian arts Vietnam »Encyclopædia Britannica Online. Encyclopædia Britannica. 23 July 2008. p. 36.
  3. ^ Vu 2017, p. 11.
  4. ^ Baldanza 2016, p. 42.
  5. ^ Whitmore 2009, p. 12.
  6. ^ Vietnam – Page 95 Audrey Seah, Charissa M. Nair – 2004 « There were three categories: dai nhac (dai nyahk) or great music, chamber music for the entertainment of the king, and ritual music- accompanying important ceremonies such as the one to ensure a good harvest. The Ly kings, in particular « 
  7. ^ International Workshop on Nhã Nhạc of Nguyễn Dynasty: Huế court music – Page 201 Huế Monuments Conservation Center, Ủy ban quốc gia Unesco của Việt Nam, Viện nghiên cứu âm nhạc (Vietnam) – 2004 « … by stricter rules. That was the rule in using « Great music » and « Small music ». Great music … »
  8. ^ Tư liệu âm nhạc cung đình Việt Nam – Page 103 Ngọc Thành Tô,ön (Mounting the Esplanade-simple version), -Dàngdàn kép (Mounting the … »
  9. ^ Asian Pacific quarterly of cultural and social affairs – Volumes 3-4 – Page 67 Cultural and Social Centre for the Asian and Pacific Region – 1971 « Đại nhạc (literally : great music) or Cd xuy Đại nhạc iW&^k.1^), composed … Tiểu nhạc (literally :small music) or // true Tiểu nhạc (UYrB%:) : small group of silk or stringed instruments and bamboo flute. Ty khanh: … Traditional Vietnamese Music 67. »
  10. ^ [1] Court Music « He with the profound knowledge about Vietnamese Court Music not only taught the performance skill of such repertoires as Liên hoàn, Bình bán, Tây mai, Kim tiền, Xuân phong, Long hổ, Tẩu mã extracted from Ten bản ngự (Small music); Mã vũ, Man (Great music) but introduced their origin and performance environment. »
  11. ^ International Workshop on Nhã Nhạc of Nguyễn Dynasty: Huế court music – Page 152 Huế Monuments Conservation Center, Ủy ban quốc gia Unesco của Việt Nam, Viện nghiên cứu âm nhạc (Vietnam) – 2004 « What is Dai nhac (great music) and what is Tieu nhac (small music)? On basis of terminology and canon-like document, there are some notions for our deep concern: – Nha nhac is a genre of music used by Chinese emperors in sacrifices to … »
  12. ^ Selected musical terms of non-Western cultures: a notebook-glossary – Page 132 Walter Kaufmann – 1990 « Dai nhac (Vietnam). « Great music. » Ceremonial music of Temple and Royal Palace performed by a large instrumental ensemble. The instruments of a dai nhac ensemble were: 4 ken, … »
  13. ^ Visiting Arts regional profile: Asia Pacific arts directory – Page 578 Tim Doling – 1996 « Court orchestras were also organized into nha nhac (‘elegant music’) and dai nhac (‘great music’) ensembles and court dances were defined as either van vu (civil) or vo vu (military). Confucian music and dance was presented at court until … »
  14. ^ Garland Encyclopedia of World Music South East Asia p.262 Nhạc tài tử
  15. ^ Nguyễn, Trâm (7 July 2011). Nguyen Van Quy – A Biography. Hanoi: Nguyễn Trâm. p. 38. Retrieved 23 October 2016.
  16. ^ Duy, Dinh (12 October 2016). « The Revival of Boléro in Vietnam »The Diplomat. The Diplomat. Retrieved 30 October 2017.
  17. ^ John Shepherd Continuum encyclopedia of popular music of the world: Volumes 3–7 – 2005
  18. ^ Phạm Duy. 1975. Musics of Vietnam
  19. ^ Olsen
  20. ^ Popular Music of Vietnam 5 Sep 2010 – Popular Music of Vietnam: The Politics of Remembering, the Economics of Forgetting by Dale A.Olsen Routledge, New York, London, 2008

Work cited[edit]

External links[edit]

Wikimedia Commons has media related to Music of Vietnam.

Listening[edit]

showvteMusic of Asia
showvteVietnam articles

Categories

Navigation menu

Search

Contribute

Tools

Print/export

In other projects

Languages

Edit links

https://en.wikipedia.org/wiki/Music_of_Vietnam

nhacxua.vn biên soạn Nguồn: Hà Đình Nguyên, Nguyễn Đình Toàn : Hoàn cảnh sáng tác bài hát bất tử “Mùa Thu Không Trở Lại” của nhạc sĩ Phạm Trọng

Hoàn cảnh sáng tác bài hát bất tử “Mùa Thu Không Trở Lại” của nhạc sĩ Phạm Trọng

2019/05/25in Xuất xứ bài hát

Nhạc sĩ Phạm Trọng (Sau này lấy tên đầy đủ là Phạm Trọng Cầu) sinh đúng vào ngày Noel năm 1935 tại Phnom Penh (Campuchia). Cha của ông là trắc địa sư Phạm Văn Lạng, vốn gốc Hà Nội, nhưng đang làm việc tại đây (thời Pháp thuộc, những công chức có thể được điều chuyển khắp Đông Dương: Việt Nam, Campuchia, Lào), sang năm 1943, đã đưa gia đình về Sài Gòn và mẹ của ông (bà Đào Thị Ngọc Thư) mở một nhà hàng ca nhạc mang tên Aristo. Tại đây, nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu được tiếp xúc với những ban nhạc Philippines và một số nhạc sĩ, ca sĩ nổi tiếng trong nước.

Phạm Trọng Cầu cũng bắt đầu học chơi đàn mandoline, tuy nhiên, thời gian này khá ngắn ngủi – chưa tới 2 năm thì chiến cuộc lan tràn, gia đình ông phải tản cư lên Biên Hòa. Sau khi Nhật đầu hàng quân đồng minh, gia đình ông trở về Sài Gòn, rồi chuyển dần xuống miền Tây Nam Bộ.

Ở Vĩnh Long, Phạm Trọng Cầu theo học trường Tiểu học Vũng Liêm và tham gia vào Đội tuyên truyền xung phong huyện. Năm 1948, Phạm Trọng Cầu trở lại Sài Gòn, tham gia phong trào xuống đường đấu tranh của sinh viên, học sinh. Một thời gian sau, ông thoát ly và vào bộ đội Tiểu đoàn 308, rồi Trung đoàn Cửu Long. Sau đó, ông bị thương phải cưa chân, mẹ ông đã tìm cách đưa ông vào Sài Gòn cứu chữa. Năm 1953, Phạm Trọng Cầu thi vào trường Quốc gia âm nhạc và kịch nghệ Sài Gòn, và chàng trai 18 tuổi, nhớ về thời thơ ấu cắp sách đã sáng tác ca khúc Trường làng tôi… Tốt nghiệp xong, đến năm 1962 Phạm Trọng Cầu lại thi vào Nhạc viện Paris (Pháp).

Tại Paris, Phạm Trọng Cầu đã viết 12 bài ca quen thuộc trên đất Pháp, trong đó có bài hát bất hủ Mùa Thu Không Trở Lại, được ký tên là Phạm Trọng. Với ca khúc này, ông tâm sự: “Dạo ở Paris, mình gặp và yêu một cô gái Việt Nam có mái tóc đen dài, đôi mắt buồn vời vợi. Tình yêu đang độ trăng rằm thì nàng phải về nước và không bao giờ trở lại Paris nữa. Chúng tôi chia tay vào mùa thu – khung cảnh mùa thu ở châu u rất đẹp, nhưng nếu phải chia ly trong một cái nền như vậy thì nó lại trở nên thật tê tái:

Em ra đi mùa thu, mùa thu không trở lại.
Em ra đi mùa thu, sương mờ giăng âm u.
Ngày em đi, nghe chơi vơi não nề.
Qua vườn Luxembourg.

Sương rơi che phố mờ, buồn này ai có mua?
Từ chia ly, nghe rơi bao lá vàng, ngập dòng nước sông Seine.
Mưa rơi trên phím đàn, chừng nào cho tôi quên?
Em ra đi mùa thu, mùa thu không còn nữa.
Đếm lá úa mùa thu, đo sầu ngập tim tôi…

Đối với tôi, đó là một mối tình xa xưa thời còn trai trẻ. Gặp nàng vào mùa xuân, mùa hạ tình nồng cháy và mùa thu nàng ra đi. Hôm tiễn nàng ra sân bay, tôi trở về nhà phải đi ngang qua khu vườn Luxembourg. Khu vườn đó, khi đi ngang, tôi chợt nhận ra mùa thu, vì chân mình đá rất nhiều lá vàng, trong tôi tự nhiên vang một giai điệu ‘Em ra đi mùa thu, mùa thu không trở lại…’ Dù là mùa thu ở Paris rất đẹp, nhưng mà từ mùa thu đó, với tôi, mùa thu không bao giờ trở lại nữa, chỉ có thế thôi”.

Mùa thu trong vườn Luxembourg

Nói về Phạm Trọng Cầu và bài hát Mùa Thu Không Trở Lại, nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn đã viết như sau trong tập Bông Hồng Tạ Ơn:

“Sinh viên Việt Nam cùng thời với Phạm Trọng nói rằng họ đều biết hoặc thuộc Mùa Thu Không Trở Lại. Ca khúc này của Phạm Trọng, cùng với thơ Nguyên Sa, thơ Cung Trầm Tưởng, đã làm cho những ngọn đèn của ga Lyon, sương mù sông Seine, công viên Luxembourg trở thành gần gụi hơn đối với các thính giả Việt Nam, nhất là các thính giả trẻ, vào cái thời còn ít người được đi xa:

Ngày em đi
Nghe chơi vơi não nề
Qua vườn Luxembourg
Sương rơi che phố mờ
Buồn này ai có mua

Từ chia ly
Nghe rơi bao lá vàng
Ngập dòng nước sông Seine
Mưa rơi trên phím đàn
Chừng nào cho tôi quên

Hôm… em ra đi mùa thu
Mùa thu không trở lại…

Sự gần gụi, cái chất thơ mộng, lãng mạn, người ta cảm nhận được khi đọc thơ, nghe nhạc, sự thật cũng chỉ có trong tưởng tượng”.

Bài hát này được nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu sáng tác vào thập niên 1960, nhưng mang đầy đủ những đặc điểm của dòng nhạc tiền chiến với lời nhạc rất thơ, rất lãng mạn. Bài hát “mùa thu” này của ông có thể xếp cùng loại với những sáng tác mùa thu khác của các bậc tiên phong tân nhạc như Đặng Thế Phong, Đoàn Chuẩn, Văn Cao… Trước năm 1975, ca sĩ Thái Thanh đã trình bày bài hát này rất thành công. Sau này, rất nhiều ca sĩ trẻ đã hát lại Mùa Thu Không Trở Lại và xếp vào các album nhạc tiền chiến.

nhacxua.vn biên soạn
Nguồn: Hà Đình Nguyên, Nguyễn Đình Toàn

WIKIPEDIA : TIỂU SỬ NHẠC SĨ PHẠM TRỌNG CẦU (1935-1998)

Bách khoa toàn thư mở WikipediaBước tới điều hướngBước tới tìm kiếm

Phạm Trọng Cầu
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinhPhạm Trọng Cầu
Sinh25 tháng 12 năm 1935
Phnôm PênhCampuchia
Mất26 tháng 5 năm 1998
Thành phố Hồ Chí Minh
Nghề nghiệpNhạc sĩ

Phạm Trọng Cầu (19351998) là một nhạc sĩ Việt Nam nổi tiếng, tác giả ca khúc Mùa thu không trở lại và bài hát thiếu nhi Cho con. Ông còn có bút danh Phạm Trọng, được ông sử dụng tại miền Nam trước năm 1975.

Mục lục

Tiểu sử & sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Phạm Trọng Cầu sinh ngày 25 tháng 12 năm 1935 tại Phnôm PênhCampuchia. Nguyên quán của ông ở Hà Nội (có tài liệu ghi là Nghệ An). Ông là con của trắc địa sư Phạm Văn Lạng và bà Đào Thị Ngọc Thư, vốn người ở Hà Nội sau đổi sang làm việc ở Campuchia. Tuy ông sống hết tuổi thơ ở đây nhưng âm nhạc Campuchia cũng không ghi dấu ấn nào trong những sáng tác của ông sau này.

Năm 1943, gia đình Phạm Trọng Cầu trở về Sài Gòn. Theo một bài viết khác thì năm 1939 cha mẹ ông bị trục xuất ra khỏi Campuchia, vì lý do chính trị. Ở Sài Gòn, mẹ ông mở nhà hàng ca nhạc mang tên Aristo. Tại đây, Phạm Trọng Cầu được tiếp xúc với những ban nhạc người Philippines và một số ca sĩ, nhạc sĩ danh tiếng Việt Nam, trong đó có Trần Văn KhêPhạm Duy… Ông cũng được học mandoline trong một thời gian khi gia đình ông tản cư về Biên Hòa.

Sau khi Nhật đầu hàng quân Đồng Minh, gia đình ông trở lại Sài Gòn, rồi lại xuống Bến Lức, về miền Tây Nam bộ, đến tận Vũng Liêm… Ông sống và đi học tại Vũng Liêm, tham gia đội Tuyên truyền xung phong huyện.

Năm 1948, Phạm Trọng trở lại Sài Gòn, tham gia phong trào xuống đường đấu tranh của sinh viên học sinh. Một thời gian sau, ông thoát ly và vào bộ đội tiểu đoàn 308, rồi trung đoàn Cửu Long. Sau đó ông bị thương phải cưa chân, mẹ ông đã tìm cách đưa ông vào Sài Gòn cứu chữa. Chính thời gian này ông viết ca khúc đầu tay Trường làng tôi.

Năm 1953, Phạm Trọng Cầu vào học tại trường Quốc gia Âm nhạc và kịch nghệ Sài Gòn. Sau khi tốt nghiệp, năm 1962 ông sang Pháp thi vào Nhạc viện Paris (Conservatoire Supérieur de Musique de Paris). Và tại Paris, Pham Trọng Cầu đã viết bản Mùa thu không trở lại nổi tiếng.

Năm 1969, ông về nước giảng dạy tại trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn, tham gia các đoàn văn nghệ như Nguồn Sống, sinh viên Phật tử Vạn Hạnh… và hoạt động nội thành. Năm 1972, ông bị bắt và bị giam cho đến 1975.

Sau ngày thống nhất đất nước, Pham Trọng Cầu về công tác ở Hội Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, và là ủy viên Hội Âm nhạc thành phố. Từ năm 1976, ông đã cùng với một số nhạc sĩ khác như Trịnh Công SơnTrần Long ẨnMiên Đức ThắngHoàng HiệpNguyễn Ngọc ThiệnTrương Thìn,… thành lập nhóm Giới thiệu sáng tác mới tại Hội Trí thức yêu nước. Có thể nói đây là nhóm giới thiệu ca khúc có tổ chức đầu tiên tại thành phố Hồ Chí Minh sau 1975.

Pham Trọng Cầu còn cùng với nhạc sĩ Nguyễn Nam (Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh) khuấy động phong trào ca hát thiếu nhi, thành lập các nhóm hát. Bản thân ông cũng có nhiều ca khúc thiếu nhi thành công như Nhịp cầu tre, Em nhớ mãi một ngày… đặc biệt là Cho con. Tuy tốt nghiệp Nhạc viện Paris nhưng ông không có nhiều sáng tác khí nhạc, gia tài của ông chủ yếu là ca khúc.

Ông mất năm 1998 tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Phạm Trọng Cầu có cho phát hành 1 tuyển tập nhạc 12 bài ca quen thuộc trên đất Pháp do Nhà xuất bản Đăng Quang xuất bản tại Sài Gòn năm 1970. Dưới đây là bản danh sách một số tác phẩm của ông:

Biển sáng (cùng với Trịnh Công Sơn)Buồn đôi mươiCho con (lời thơ Tuấn Dũng)Cho dù năm tháng (lời thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường)Cho em còn yêuCho tôi xin bàn tayĐà Lạt gió và mây (lời thơ Nguyễn Lương Hiệu)Dáng xuânĐêm lạnhĐà Lạt gió và mâyEm là gió mát (lời thơ Ngọc Khương)Em mãi là 20 tuổi (lời thơ Quang Dũng)Em nhớ mãi một ngàyEm tập đàn (lời thơ Ngọc Khương)Gieo hương vào đờiKhông nóiLời con hỏiMơ ước một ngày vềMột mai tôi qua đờiMột trái tim một quê hươngMưa Paris thu ParisMùa thu không trở lạiNgày tôi gặp emNhịp cầu treNhững vì saoQuê hương (thơ Giang Nam)Tà áo trắngTan vỡTrường cũ chốn xưaTrường làng tôiƯớc mơ hồng

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Thể loại

Trình đơn chuyển hướng

Thêm

Tìm kiếm

Tương tác

Gõ tiếng Việt

Trợ giúp

  •  Tự động [F9]
  •  Telex (?)
  •  VNI (?)
  •  VIQR (?)
  •  VIQR*
  •  Tắt [F12]
  •  Bỏ dấu kiểu cũ [F7]
  •  Đúng chính tả [F8]

Công cụ

In/xuất ra

Ngôn ngữ khác

Thêm liên kết

https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%E1%BA%A1m_Tr%E1%BB%8Dng_C%E1%BA%A7u

MAI THU : biographie, extrait de son site : http://www.mai-thu.fr/

[ Biographie ]

MAI TRUNG THU, dit MAI-THU de son nom d’artiste, est né le 10 novembre 1906 dans le village de Rho-Nha dans la province de Kien-An (proche de Haïphong) au Nord Viet Nam.

Après des études secondaires au Lycée Français d’Hanoï, il fait partie de la première promotion, de 1925 à 1930, des élèves de l’Ecole des Beaux-Arts de cette capitale du Tonkin de l’époque.

1931 – 1937 : Il exerce comme professeur de dessin au Lycée Français de Hué et perfectionne son jeu de doc-huyen, monocorde traditionnel vietnamien, au contact des musiciens nombreux alors dans l’ancienne ville impériale. Puis il demande à être envoyé en France à l’occasion de l’Exposition Internationale des Arts décoratifs de 1937.

1938 – 1940 : Il participe dès lors au Salon des Indépendants et au Salon d’Automne et se fait connaître, au travers d’émissions de radio et de concerts, comme joueur de doc-huyen.

1940 – 1942 : Engagé volontaire puis démobilisé à Mâcon en 1941, il restera quelque temps dans cette ville.

Remarqué par la famille Combaud, personnalités influentes de la place, il réalisera de nombreux portraits de la société mâconnaise ainsi que la décoration de la chapelle dédiée au morts de 14-18 dans l’Eglise Saint- Pierre de Mâcon. Il expose dans le même temps à Vichy (Galerie Lorenceau) et à Lyon (Galerie Bellecour).

1942 : Invité par le gouverneur d’Algerie avec son ami LE PHO, il expose à la Galerie Romanet d’Alger.

1943 – 1944 : MAI-THU s’installe définitivement à Paris et expose rue de la Boëtie (Galerie Hessel), aux Champs Elysées (Pavillon de Madagascar).

1946 : Il se consacre, au sein d’un groupe de cinéastes amateurs vivant en France, au reportage filmé de la Conférence de Fontainebleau, lors de la venue du Président Ho Chi Minh à Paris.

1947 – 1948 : Exposition rue de la Paix (Galerie d’Art Français).

1948 – 1949 : Réalisation d’un film documentaire sur la technique de la « Peinture sur Soie », présenté plusieurs fois à la Cité universitaire et au Musée de l’Homme.

1952 – 1957 : Plusieurs expositions (Galerie Conti, Galerie de l’Institut rue de Seine, Galerie Marforen Faubourg Saint Honoré) assoient sa notoriété. Mais c’est à partir de la rencontre de MAI-THU avec Jean François Apesteguy, qui deviendra son directeur artistique exclusif, que la valorisation de son œuvre, par des expositions régulières à thèmes et la diffusion de sa peinture dans de grandes collections françaises et internationales, sera effective.

1954 : MAI-THU rencontre l’artiste peintre et décoratrice sur soie Jeanne SINERAY, dite SAO. De leur union naît une petite fille en 1956. Le soutien de son épouse lui sera acquis en toutes considérations, bien sûr artistiques en tout premier lieu.

1958 – 1959 : Exposition Galerie Pro Arte rue de Miromesnil, puis à Deauville où MAI-THU, jusqu’à sa disparition et après, sera régulièrement exposé dans la Galerie personnelle de J.F Apesteguy.

1960 : Première exposition à la Galerie du Péristyle (Salle Gaveau, rue de la Boétie) avec J.F Apesteguy. Cette même année, MAI-THU, toujours virtuose de doc-huyen, obtient avec le Professeur Tran Van Khé, musicologue de renom, le Grand Prix du Disque pour un enregistrement de musique traditionnelle vietnamienne.

1960 – 1965 : Collaboration avec l’UNICEF (Fonds des nations Unies pour l’Enfance) lors de sa campagne d’ « Aide à l’enfance malheureuse » et édition de plusieurs cartes de vœux en plusieurs langues.

Avec son ami poète Phan Vam Ky, il illustre un recueil de « Poèmes sur soie » par des peintures et une laque originales, acquis par le Duc et la Duchesse de Windsor.

1962 : Le cinéaste Léo Jouannon, dans son film « Fort du Fou », sur fond de guerre d’Indochine, lui confie le rôle du prêtre catholique, que MAI-THU incarne avec un réalisme certain. Le film sort en 1963.

1963 : A la Galerie du Péristyle, avec J.F. Apesteguy, première grande exposition consacrée à un thème, « Les Enfants de MAI-THU ». Le succès est immense et de nombreuses reproductions sur papier (bristol) et sur soie (satin) sont éditées dans le monde entier.

1965 : MAI-THU est régulièrement exposé à la Galerie « Angle du Faubourg » par J.F. Apesteguy, rue du Faubourg St Honoré.

1968 : L’exposition à thème « La Femme vue par MAI-THU » à la Galerie Cardo Matignon (Avenue Matignon) remporte un vif succès malgré les évènements socio-politiques qui agitent la France.

1971 : L’Exposition « L’Enfant et la famille » à la Galerie Doucet (Place Beauveau) précède un premier voyage retour au Viet Nam en 1973.

1974 – 1975 : L’Exposition « Le Monde de MAI-THU » a lieu à la Galerie Vendôme, rue de la Paix, avant un deuxième voyage en 1975, lors de la chute de Saïgon menant à l’unification de la République Socialiste du Viet Nam.

La galerie Vendôme expose encore MAI-THU en 1975 lors d’une rétrospective avec d’autres peintres.

Décembre 1979 – janvier 1980 : L’ Exposition « L’Univers poétique de MAI-THU » à la Galerie Vendôme présentera une dernière explosion de couleurs, d’humanité et de douceur, avant que l’artiste ne disparaisse le 10 octobre 1980

Tombe Vanves

Il est enterré au cimetière de Vanves dans les Hauts de Seine. Une exposition « Cent petits tableaux » était en préparation.

Ses restes demeureront au cimetière de Vanves jusqu’en 2019.

Tombe fleurie Ro Nha

Le 20 février 2019 ses cendres furent transférées jusqu’à la concession familiale de Rho Nha, province de Kien An au Viet Nam.

Mai-Thu repose à présent parmi les siens.

tombe Ro Nha
tombe Mai Thu Vietnam


http://www.mai-thu.fr/biographie

MUSÉE DES URSULINES , MÂCON : Mai-Thu (1906-1980) écho d’un Vietnam rêvé , entre 16 juin – 24 octobre 2021

  1. Accueil
  2. VIVRE ET BOUGER À MÂCON
  3. Culture
  4. Musée des Ursulines
  5. Saison / Programmation
  6. Expositions temporaires
  7. Expositions à venir
  8. Mai-Thu (1906-1980) écho d’un Vietnam rêvé (16 juin – 24 octobre 2021)

Mai-Thu (1906-1980) écho d’un Vietnam rêvé

16 juin – 24 octobre 2021

Info COVID-19 : Une jauge réduite a été instaurée pour respecter les recommandations sanitaires. Le respect des gestes barrière et le port du masque dès 6 ans sont obligatoires pour les activités culturelles.

Mai-Thu (1906-1980), pionnier de l’art moderne vietnamien et maître de la peinture sur soie, séjourne à Mâcon de 1940 à 1941. Aujourd’hui, le musée des Ursulines lui consacre une exposition qui constitue la première rétrospective jamais dédiée à son travail.

Pour cet évènement, le musée réunit plus de 140 œuvres originales de l’artiste parmi lesquelles des huiles sur toile, des peintures sur soie, des dessins, photographies et lithographies. L’occasion de découvrir un style personnel, empreint de poésie, où la ligne et la couleur sont mises au service de scènes inspirées par la vie traditionnelle vietnamienne.

Cette exposition exceptionnelle est organisée du 16 juin au 24 octobre 2021 en partenariat avec le musée Cernuschi, musée des arts de l’Asie de la Ville de Paris, et avec le soutien et la participation de Madame Mai Lan Phuong, fille de l’artiste. La très grande majorité des oeuvres présentées n’a jamais été montrée au public.

L’exposition bénéficie du soutien financier de la Direction Régionale des Affaires Culturelles et de la Région Bourgogne-Franche-Comté. Cette exposition est reconnue d’Intérêt National par le Ministère de la Culture. Elle bénéficie à ce titre d’un soutien financier exceptionnel de l’État.

Plus de 140 œuvres réunies pour un événement exceptionnel

Agrandir l'image (fenêtre modale)
Agrandir l'image (fenêtre modale)
Agrandir l'image (fenêtre modale)
Agrandir l'image (fenêtre modale)
Agrandir l'image (fenêtre modale)
Agrandir l'image (fenêtre modale)
Agrandir l'image (fenêtre modale)
Agrandir l'image (fenêtre modale)

Une programmation culturelle riche et variée 

Le musée des Ursulines propose de nombreuses activités autour de l’exposition Mai-Thu : atelier de calligraphie, concerts ou conférences, ces animations vous sont proposées par des spécialistes de la culture vietnamienne.

Pour réserver, c’est ici.

Journée d’étude autour de Mai-Thu

A l’occasion de cette exposition exceptionnelle, le musée des Ursulines organise une journée d’étude afin de mieux comprendre l’univers de Mai-Thu. 

Le 24 juin 2021 à partir de 9h45 à l’amphithéâtre Guillemin. 

Entrée libre, sous réservation au 03.85.39.90.38. 

TÉLÉCHARGER

https://www.macon.fr/vivre-et-bouger-a-macon/culture/musee-des-ursulines/saison-programmation/expositions-temporaires/expositions-a-venir/mai-thu-1906-1980-echo-dun-vietnam-reve-16-juin-24-octobre-2021?fbclid=IwAR153uuw6qs_2eTYqA0ONpfZ-b0UF_2EJX1dBhW-CeJvX19K78PiwMy2WPY